Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Niềm vui mới đối với thị trường đồ chơi: Ghép hình tỷ đô


Ông Nam Thành tiết lộ: "Doanh thu của Công ty đang tốt lên và sẽ tiếp tục khả quan do N2T vừa thắng hợp đồng cung cấp sản phẩm cho hai đơn vị giáo dục lớn nhờ giá cả phải chăng và sản phẩm chất lượng".Tuy không thuận lợi như Nkid do đi vào phân khúc "đồ chơi giáo dục" và thương hiệu made in Việt Nam, nhưng nhờ kịp thời chuyển hướng bán lẻ vào kênh online và bán trực tiếp cho các trung tâm giáo dục quốc tế nên N2T, với thương hiệu Tahuky, cũng đã có kết quả tăng trưởng khả quan sau gần 6 tháng khó khăn.

Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng ý thức về an toàn nên đã quay lưng với đồ chơi Trung Quốc và chọn mua đồ chơi của các hãng nước ngoài có thương hiệu uy tín.
Mặt khác, xu hướng phát triển các trung tâm thương mại (TTTM), siêu thị lớn như Aeon, Lotte, SC Vivocity, VinMart... đã tạo cơ hội cho chuỗi cửa hàng đồ chơi phát triển theo.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Nam Thành, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Đầu tư N2T: "Dù thị trường đồ chơi Việt Nam được đánh giá tiềm năng nhưng chỉ thực sự khởi sắc ba năm trở lại đây do mức sống trong xã hội nâng cao, nhiều phụ huynh quan tâm vấn đề sức khỏe cũng như ý thức hơn trong việc chọn đồ chơi cho con, nhất là khi thông tin đồ chơi Trung Quốc kém chất lượng gây hại cho sức khỏe trẻ em".
Tìm hiểu một số doanh nghiệp (DN) lớn đang phân phối đồ chơi cho thị trường trong nước như Việt Tinh Anh, chuyên phân phối Lego, Công ty Petrosetco phân phối đồ chơi Đức, Phú An Điền chuyên hàng Nhật Bản..., ông Thành tiết lộ: "Hầu hết đều đạt tăng trưởng hai con số trong ba năm gần đây".
Ông Thomas Joseph Ngo, Tổng giám đốc Công ty Nkid Group, đơn vị phân phối đồ chơi cho Hãng Mattel (Mỹ) với các thương hiệu nổi tiếng như Hot Wheels, Barbie, Fisher Price..., cũng cho biết: "Những năm qua, kinh doanh của chúng tôi rất thuận lợi. Một phần nhờ mức sống tăng, người tiêu dùng ngày càng ý thức cao về an toàn sức khỏe nên chọn mua đồ chơi của các hãng có thương hiệu uy tín, mặt khác nhờ xu hướng phát triển các TTTM, siêu thị lớn như Aeon, Lotte, SC Vivocity, VinMart..., tạo cơ hội cho chuỗi cửa hàng đồ chơi phát triển theo. Doanh thu của Nkid mỗi năm tăng trưởng 50% là nhờ đi theo hệ thống siêu thị và TTTM. Với kế hoạch tiếp tục mở rộng kênh bán lẻ, doanh thu của chúng tôi kỳ vọng sẽ còn tăng".
Theo ông Thomas Ngo, các TTTM lớn rất chú trọng việc hợp tác với các thương hiệu nước ngoài có uy tín, tên tuổi nên việc mở kênh phân phối tại các TTTM này khá thuận lợi. Thực tế, nhiều sản phẩm của các thương hiệu lớn chỉ đắt hơn đồ chơi Trung Quốc 20 - 30% nên nhiều phụ huynh vẫn chấp nhận.

Ông Nam Thành tiết lộ: "Doanh thu của Công ty đang tốt lên và sẽ tiếp tục khả quan do N2T vừa thắng hợp đồng cung cấp sản phẩm cho hai đơn vị giáo dục lớn nhờ giá cả phải chăng và sản phẩm chất lượng".Tuy không thuận lợi như Nkid do đi vào phân khúc "đồ chơi giáo dục" và thương hiệu made in Việt Nam, nhưng nhờ kịp thời chuyển hướng bán lẻ vào kênh online và bán trực tiếp cho các trung tâm giáo dục quốc tế nên N2T, với thương hiệu Tahuky, cũng đã có kết quả tăng trưởng khả quan sau gần 6 tháng khó khăn.
Khi chọn phân phối đồ chơi thông minh nhập từ Đức như FisherTechnik, FischerTip, Eitech, Teifoc, Revensburger, Big, Ferbedo và Kettler, Công ty CP Dịch vụ phân phối tổng hợp Dầu khí (Petrosetco-PSD) nhận định, thị trường đồ chơi an toàn và chất lượng tại Việt Nam còn rất trống nên chỉ cần có 2% thị phần, PSD sẽ có 7,7 triệu USD mảng đồ chơi thông minh.
Đại diện truyền thông của siêu thị Lotte Mart cũng cho biết: "Doanh thu của các cửa hàng đồ chơi tại siêu thị đóng góp rất ổn định vào mức tăng trưởng chung của siêu thị, ngay cả khi hệ thống mở rộng ra các tỉnh thì doanh thu của các công ty vẫn tăng trưởng ổn định".
Không chỉ lạc quan ở mảng phân phối, nhiều công ty sản xuất đồ chơi nước ngoài đã bắt nhịp thị trường đang tăng trưởng cũng như những lợi thế tại Việt Nam như giá nhân công chỉ bằng một phần ba so với ở Trung Quốc, giá nguyên vật liệu rẻ để chuyển hướng sản xuất tại Việt Nam.
Đơn cử như Công ty Banco, một chi nhánh của Công ty Namco Bandai, đã mở nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em tại Hải Phòng để xuất khẩu sang châu Âu.
Tương tự, Tập đoàn Takara Tomy (Nhật Bản) sau nhiều năm mở nhà máy sản xuất tại Trung Quốc, nay đã mở ba nhà máy sản xuất đồ chơi tại Hải Phòng. Hiện 1/3 sản phẩm của Công ty xuất khẩu sang Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu đều được sản xuất tại Việt Nam.
Thị trường đồ chơi của Việt Nam, từng được ước tính trên 1 tỷ USD/năm. Do thị trường tiềm năng nên có khá nhiều công ty chen chân vào lĩnh vực nhập khẩu và phân phối đồ chơi dẫn đến cạnh tranh nóng với giá cả và chất lượng chênh lệch và khó phân biệt, nhất là khi phải cạnh tranh với đồ chơi Trung Quốc về giá.
Đơn cử như Công ty CP Đồ chơi Phương Nga đã từng phải đối mặt với khó khăn khi thời điểm trước năm 2013, giá bán đồ chơi ngoại nhập chỉ ở mức phổ biến khoảng 300 ngàn đồng/món, trong khi nhiều sản phẩm của Công ty có giá từ 500 ngàn - 1 triệu đồng, dẫn đến kết cuộc Phương Nga phải bán cổ phần cho Công ty Nkid.

Chia sẻ cùng bạn thông tin thương hiệu Việt trong vòng xoáy thâu tóm

Điều đáng chú ý, những DN mà NĐT Thái "mạnh tay" thâu tóm không chỉ dẫn đầu trong chính lĩnh vực họ kinh doanh mà còn có hệ thống phân phối vững mạnh. Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, đầu tư của NĐT Thái Lan vào Việt Nam thể hiện rõ hai xu hướng: hoặc là tạo ra sản phẩm nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu, đã có cơ sở sản xuất ở Thái Lan nhưng muốn dịch chuyển sang Việt Nam nhằm giảm thiểu chi phí, hoặc là những DN thuộc nhóm ngành hàng thiết yếu, sang Việt Nam để mở rộng kinh doanh lẫn thị trường tiêu thụ.
Nhiều thương hiệu dần thuộc về nhà đầu tư Thái
Trả lời phóng viên Báo Doanh Nhân Sài Gòn về đặc trưng của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong hai năm trở lại đây, ông Đỗ Nhất Hoàng Cục trưởng, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch Đầu tư), cho rằng, nhà đầu tư (NĐT) Thái Lan và cả NĐT nước ngoài tại Thái rất quan tâm đến thị trường Việt Nam, đặc biệt kể từ khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành (cuối năm 2015).
Sự dịch chuyển sang Việt Nam của các NĐT Thái Lan bắt từ năm 2014, chủ yếu thông qua hình thức mua bán - sáp nhập (M&A). Không ít thương hiệu đứng đầu ngành công nghiệp, bán lẻ của Việt Nam dần được kiểm soát bởi NĐT Thái.
Theo thống kê của StoxPlus, năm 2015, sau bất động sản, ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 về M&A (khu vực NĐT nước ngoài thâu tóm thương hiệu trong nước) với 17 thương vụ, đạt giá trị 178,18 triệu USD.
Đáng chú ý với ngành sản xuất bao bì, thông qua công ty con là TC Flexible Packaging Co., Ltd, Tập đoàn SCG của Thái Lan đã chi hơn 44 triệu USD để sở hữu 80% cổ phần của Công ty CP Bao bì Tín Thành, một trong 5 nhà sản xuất bao bì lớn nhất Việt Nam, với thương hiệu Batico, có hơn 20 năm hoạt động và thị phần rải đều cả nước lẫn xuất khẩu sang Úc, Mỹ, các quốc gia châu Á...
Đó chưa phải là lần đầu tiên doanh nghiệp (DN) Thái Lan "nhòm ngó” các thương hiệu mạnh của Việt Nam. Trước khi đến với Tín Thành, SCG đã là cổ đông lớn tại Công ty CP Nhựa Bình Minh (HOSE: BMP) thông qua công ty con là The Nawaplastic Industries Co., Ltd.
Bà Nguyễn Thị Kim Yến, Phó tổng giám đốc Công ty Nhựa Bình Minh, cho biết, trong hơn 38 năm hoạt động, Nhựa Bình Minh vẫn giữ được thị phần đa số trong thị trường ống nhựa Việt Nam (với hơn 1.200 cửa hàng phân phối, tính đến cuối năm 2014).
Đồng thời, sau 11 năm cổ phần hóa, Nhựa Bình Minh đã mở rộng sản xuất với việc sở hữu hơn 200.000m2 nhà xưởng thuộc 4 nhà máy tại Hưng Yên, Bình Dương, TP.HCM và Long An. Trong đó, nhà máy ở Long An với quy mô 160.000m2 là nhà máy trang bị dây chuyền công nghệ hiện đại bậc nhất khu vực.
Hiện, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đang nắm 29% vốn điều lệ của Nhựa Bình Minh. Đại diện Nhựa Bình Minh cho biết, với chủ trương nới room cho NĐT nước ngoài, đối tác ngoại trong HĐQT của Công ty bày tỏ mong muốn được sở hữu 100% cổ phần của Nhựa Bình Minh.
Từ đầu năm 2015 đến nay, Tập đoàn bán lẻ hơn 90 năm tuổi từ Thái Lan là Central Group đã thực hiện nhiều thương vụ thâu tóm DN Việt. Điển hình, đầu năm 2015, Power Buy, trực thuộc Central Group, đã mua 49% cổ phần của Công ty CP Đầu tư Phát triển công nghệ và Giải pháp mới (NKT).
NKT là đơn vị sở hữu chuỗi bán lẻ điện máy Nguyễn Kim, thương hiệu luôn nằm trong top 500 nhà bán lẻ hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời, dẫn đầu thị phần phân phối điện máy trong nước với khoảng 21 siêu thị (từ thời điểm thành lập 2001 đến lúc Central Group thực hiện M&A).
Điều đáng chú ý, những DN mà NĐT Thái "mạnh tay" thâu tóm không chỉ dẫn đầu trong chính lĩnh vực họ kinh doanh mà còn có hệ thống phân phối vững mạnh.
Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, đầu tư của NĐT Thái Lan vào Việt Nam thể hiện rõ hai xu hướng: hoặc là tạo ra sản phẩm nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu, đã có cơ sở sản xuất ở Thái Lan nhưng muốn dịch chuyển sang Việt Nam nhằm giảm thiểu chi phí, hoặc là những DN thuộc nhóm ngành hàng thiết yếu, sang Việt Nam để mở rộng kinh doanh lẫn thị trường tiêu thụ.
"Giải cứu" thương hiệu Việt
Không chỉ sản xuất công nghiệp, trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), Việt Nam cũng sở hữu nhiều thương hiệu mang giá trị truyền thống và cả tiềm năng để phát triển.
Song, ngoại trừ Vinamik, sau hơn 40 năm phát triển và 10 năm niêm yết trên sàn chứng khoán vẫn giữ được vị thế nhà sản suất sữa lớn nhất Việt Nam với 50% thị phần (trong chiến lược kinh doanh, Vinamilk đặt mục tiêu trở thành 50 công ty sữa lớn nhất trên thế giới và đạt doanh số 3 tỷ USD vào năm 2017), các thương hiệu như mì Miliket, kem đánh răng Dạ Lan... đều bị "lép vế” trước các NĐT ngoại.
Chẳng hạn, Miliket, vốn được xem là thương hiệu độc quyền trên thị trường mì gói vào thập niên 1970 - 1980 nhưng mấy năm gần đây, vị trí dẫn đầu đã thuộc về NĐT Nhật Bản - Vina Acecook (50% thị phần).
Nhìn sang Thái Lan, dù họ mở cửa thị trường sớm hơn Việt Nam nhưng thương hiệu mì MAMA của Công ty Thai President Foods PCL (có từ năm 1972) vẫn chiếm lĩnh thị trường trong nước với 53% thị phần.
Hiện nay, mì gói MAMA của người Thái đã mở rộng sản xuất ở Myanmar, Campuchia, Hungary và sản phẩm đã bán tại nhiều nước châu Âu, với mức tăng trưởng doanh số hàng năm từ 10 - 20%.
Để thương hiệu mang tính toàn cầu, họ chủ yếu tung hàng hóa vào các kênh phân phối lớn, trong đó có Tesco, một trong 10 nhà bán lẻ hàng đầu thế giới.
Với ngành hàng FMCG, để tăng độ phủ và doanh số, bên cạnh chính sách liên kết chặt chẽ giữa kênh phân phối hiện đại lẫn truyền thống, chiết khấu, khuyến mãi, DN thường dành ngân sách khá lớn cho quảng bá, truyền thông nhưng Miliket lại chủ yếu bán hàng thông qua kênh hàng Việt về nông thôn, chợ đầu mối, đại lý...
Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến lượng tiêu thụ mì Miliket chỉ đạt 3%, dù độ nhận biết về thương hiệu của người tiêu dùng trên 50% (theo DI Marketing, tỷ lệ này ở thương hiệu mì Hảo Hảo của Vina Acecook là 34% và 84%).
Theo danh sách 100 công ty có giá trị nhất Đông Nam Á 2015 do Tạp chí Nikkei Asian Review (Nhật Bản) bầu chọn, trong khi Việt Nam chỉ có 5 đại diện (Vinamilk là công ty có vốn hóa lớn nhất, với hơn 6,6 tỷ USD) thì cả Singapore, Indonesia và Thái Lan dẫn đầu với 25 công ty, Philippines và Malaysia chia đều với 22 đại diện mỗi quốc gia.
Những công ty có giá trị này không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh kinh doanh, mà còn sở hữu tài sản vô hình nhưng quý giá, đó là thương hiệu mạnh của quốc gia, có sức đề kháng tốt...
Một chuyên gia tư vấn quốc tế cho nhiều thương hiệu nước ngoài vào Việt Nam lẫn đưa thương hiệu Việt Nam ra thế giới cho rằng, để có được thương hiệu mạnh, trước hết, bản thân DN phải thay đổi tư duy kinh doanh, không thể giữ mãi cách làm cũ.
Và để có được "đội ngũ thương hiệu quốc gia", cơ quan quản lý nhà nước phải đồng hành và tạo điều kiện cho DN, trong đó có nguồn vốn giá rẻ và tiếp cận thị trường nhanh. Điều này thì người Nhật, Hàn Quốc, Singapore làm khá tốt.

Doanh nghiệp nội gặp khó trong lĩnh vực kinh doanh đồ chơi

Tương tự, Công ty Nhựa Chợ Lớn đã bỏ ra hàng trăm ngàn USD đầu tư thêm máy móc, thiết bị để sản xuất 500 chủng loại xe trẻ em với giá bán rẻ hơn 20 - 30% so với hàng Trung Quốc và rẻ hơn 59 - 70% so với các loại xe nhập khẩu từ Nhật, Hàn Quốc hoặc Đài Loan, đồng thời sản xuất gần 200 chủng loại đồ chơi xếp hình thông minh làm bằng nhựa PP, nhưng vẫn nhận gia công xuất khẩu để lấy ngắn nuôi dài.Nằm trong số 10 DN ít ỏi đầu tư nghiêm túc vào sản xuất đồ chơi gỗ và đang được thị trường biết đến với thương hiệu Winwintoys với các sản phẩm dành cho bé từ 1 tuổi trở lên, có thể vừa học vừa chơi, sáng tạo nhưng doanh số thị trường nội địa của Công ty CP Chế biến gỗ Đức Thành cũng vẫn còn khiêm tốn.
Dù thị trường đồ chơi ước tính tăng trưởng 15-20% mỗi năm nhưng tới 95% sản phẩm của các DN trong nước sản xuất được xuất khẩu và chỉ có 5% được bán ở trong nước. Nghịch lý này được các DN lý giải do thị trường trong nước có nhiều cái khó, trong đó cái khó nhất là khó cạnh tranh về giá với đồ chơi giá rẻ, kém chất lượng của Trung Quốc.
Ông Trịnh Chí Cường, Tổng giám đốc Công ty CP Nhựa Đại Đồng Tiến, cho biết: "Nhiều năm qua, Đại Đồng Tiến nhận gia công đồ chơi cho một công ty của Thụy Điển, doanh thu từ mảng này đóng góp rất lớn vào doanh số của Công ty. Tuy nhiên, lĩnh vực đồ chơi trẻ em là sân chơi toàn cầu vì hiện nay, hầu hết các thương hiệu đồ chơi có tên tuổi trên thế giới đều có bề dày kinh nghiệm lâu năm, nếu gia nhập sân chơi này, đồng nghĩa phải đủ mạnh từ chuỗi sản xuất đến phân phối và khó nhất là làm sao phải đẩy được thương hiệu lên quy mô quốc tế. Đây là cả một sự đầu tư không đơn giản và cần rất nhiều thời gian. Vì vậy, dù đủ năng lực sản xuất nhưng chúng tôi cũng phải cân nhắc".
Ở lĩnh vực đồ chơi bằng gỗ, mặc dù được xem là có lợi thế về gỗ và đã đưa ra thị trường nhiều sản phẩm đồ chơi gỗ thông minh, mang tính giáo dục được đánh giá cao, nhưng hầu hết các DN sản xuất trong nước cũng chỉ chú trọng xuất khẩu.
Hơn 20 năm qua, một công ty gia công cho thương hiệu Tahuky đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý gỗ không dùng hóa chất để cho ra những sản phẩm đồ gỗ có giá trị cao bằng gỗ xoài, gỗ sầu riêng và gỗ xà cừ được nhiều khách hàng trong nước cũng như quốc tế đón nhận.
Tuy nhiên, đại diện của công ty này cũng chia sẻ: "Đặc thù của đồ chơi là thay đổi rất nhanh, thậm chí từng tháng, từng quý, nhưng phải mất đến hai tháng mới cho ra một mẫu mới, trong khi nếu số lượng không đủ lớn, nhà sản xuất sẽ rất khó cạnh tranh, chưa kể kinh phí đầu tư cho việc nghiên cứu sản phẩm mới, tiếp thị sản phẩm rất lớn, nhất là tình trạng thiếu các loại phụ liệu. Đó là lý do nhiều năm qua, chúng tôi chỉ tập trung làm hàng xuất khẩu".
Tương tự, Công ty Nhựa Chợ Lớn đã bỏ ra hàng trăm ngàn USD đầu tư thêm máy móc, thiết bị để sản xuất 500 chủng loại xe trẻ em với giá bán rẻ hơn 20 - 30% so với hàng Trung Quốc và rẻ hơn 59 - 70% so với các loại xe nhập khẩu từ Nhật, Hàn Quốc hoặc Đài Loan, đồng thời sản xuất gần 200 chủng loại đồ chơi xếp hình thông minh làm bằng nhựa PP, nhưng vẫn nhận gia công xuất khẩu để lấy ngắn nuôi dài.Nằm trong số 10 DN ít ỏi đầu tư nghiêm túc vào sản xuất đồ chơi gỗ và đang được thị trường biết đến với thương hiệu Winwintoys với các sản phẩm dành cho bé từ 1 tuổi trở lên, có thể vừa học vừa chơi, sáng tạo nhưng doanh số thị trường nội địa của Công ty CP Chế biến gỗ Đức Thành cũng vẫn còn khiêm tốn.
Tự tin với thị trường đồ chơi tiềm năng và mạnh dạn đặt gia công, xây dựng thương hiệu đồ chơi Tahuky phân phối thị trường nội địa nhưng Giám đốc Công ty N2T Nam Thành cũng thừa nhận: "Sau khi khảo sát thị trường, thấy đồ chơi ngoại có giá cao hơn gấp 4 lần đồ chơi trong nước nên tôi quyết định ra mắt thương hiệu đồ chơi thông minh Tahuky với giá... nội địa. Tuy nhiên, đồ chơi nội với thương hiệu mới, còn lạ với người dùng nên trong suốt 6 tháng đầu, kinh doanh khá khó khăn".
Đại diện của công ty nhận gia công cho Tahuky, cũng cho hay: "Một loại đồ chơi thường có chu kỳ sống rất ngắn nên nhà sản xuất phải liên tục thay đổi, nếu nghiên cứu thiết kế ra một mẫu mới thì kéo theo hàng loạt khó khăn về nguyên phụ liệu, song do số lượng sản xuất chưa nhiều nên giá nguyên phụ liệu cao khiến giá thành cao. Chưa kể một sản phẩm cần đến vài chục, thậm chí cả trăm chi tiết nên phải có quy mô sản xuất và vốn đầu tư lớn. Hiện nay, 90% đồ chơi trên thế giới được sản xuất từ Trung Quốc nên họ sản xuất hàng loạt với số lượng nhiều, vì vậy giá thành rất cạnh tranh. Bên cạnh đó, sản xuất đồ chơi cho trẻ em rất phức tạp, nhiều tiêu chuẩn khắt khe, trong khi năng lực vốn, khả năng tự chủ nguồn cung phụ liệu, thiết kế mẫu của các DN trong nước còn rất hạn chế. Đó là lý do chúng tôi chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng xuất khẩu, dù có hơn 20 năm kinh nghiệm trong nghề”.

Cùng khám phá thị trường thực phẩm hữu cơ hiện nay: Ma trận Organic Foods

“Song qua quá trình tìm nguồn hàng sạch, tốt cho sức khoẻ với chất lượng khoảng 70% Organic trở lên từ thị trường Mỹ, chúng tôi nhận thấy doanh nghiệp (DN) sản xuất thực phẩm Organic Mỹ vẫn chưa mặn mòi với thị trường Việt Nam, dù Việt Nam đang có gần 100 triệu dân và đang được xem là “vùng đất hứa” của nhiều DN khối ngoại”, ông nói.
Vài năm trở lại đây, thực phẩm hữu cơ (Organic Foods) và thực phẩm tự nhiên (Natural Foods) được xem có thị trường tiềm năng, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Theo đó, các mô hình kinh doanh loại sản phẩm này (từ bán hàng online, đến đầu tư cửa hàng trực tiếp) xuất hiện ngày càng nhiều ở các thành phố lớn, đặc biệt là tại TP.HCM và TP. Hà Nội. Hệ thống bán lẻ hiện đại như cửa hàng tiện lợi, siêu thị, đại siêu thị cũng xuất hiện ngày càng nhiều sản phẩm organic foods, song phần lớn lại là hàng nhập khẩu.
Được biết, rau, củ, quả hữu cơ, thực phẩm hữu cơ là những khái niệm mới về thực phẩm xanh, sạch, tốt cho sức khoẻ, bắt đầu tìm được “đất sống” khi hàng loạt thực phẩm bẩn, thực phẩm kém chất lượng được phanh phui trong những năm gần đây.
Cùng với sự phát triển nhanh của lĩnh vực này, cũng không ít loại thực phẩm “đội lốt” hữu cơ được bày bán trên thị trường đã tạo nên một ma trận thực phẩm đánh đố người tiêu dùng (NTD).
Lâu nay, khi nói đến thực phẩm Organic, nhiều người nghĩ ngay đến rau, củ, quả tươi sống. Nhưng hiện nay, nhiều mặt hàng đóng gói như gia vị, thực phẩm khô (ngũ cốc, bánh mỳ, các loại hạt...), thức uống (sữa, trà, cà phê, ca cao...), thực phẩm bổ sung (mật ong, thực phẩm chức năng...), mỹ phẩm (chăm sóc cơ thể, chăm sóc em bé, chăm sóc nhà...) cũng “hữu cơ” hóa, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của NTD dùng.
Song điều đáng nói, dù có thế mạnh về nông nghiệp, sản phẩm chuẩn Organic “made in Vietnam” không có bao nhiêu.
Thống kê sơ bộ của một tạp chí về tiếp thị, hiện nay cả TP.HCM và Hà Nội, cửa hàng kinh doanh thực phẩm Organic bài bản chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Song phần lớn sản phẩm đóng gói đều được nhập khẩu, kể cả rau, củ, quả.
Liệu đây có phải là “vùng đất hứa” cho phân khúc này phát triển tại Việt Nam?
Theo ông Bùi Thanh Giang, Phó giám đốc Công ty CP Sữa Mỹ, đơn vị đang phân phối sữa Mỹ với chất lượng khoảng 70% Organic, hiện nay, các loại sữa nói riêng và thực phẩm Organic nói chung thì Mỹ vẫn là quốc gia đứng đầu về số lượng.
“Song qua quá trình tìm nguồn hàng sạch, tốt cho sức khoẻ với chất lượng khoảng 70% Organic trở lên từ thị trường Mỹ, chúng tôi nhận thấy doanh nghiệp (DN) sản xuất thực phẩm Organic Mỹ vẫn chưa mặn mòi với thị trường Việt Nam, dù Việt Nam đang có gần 100 triệu dân và đang được xem là “vùng đất hứa” của nhiều DN khối ngoại”, ông nói.
Lý giải thêm về điều này, ông Giang cho hay, hiện nay việc kinh doanh thực phẩm Organic không hề đơn giản. Nếu DN chỉ là nhà nhập khẩu và phân phối tại thị trường Việt Nam thì phải mất ít nhất từ 2 đến 3 năm đầu chịu lỗ để tìm thị trường, song vẫn chưa có gì chắc chắn sau thời gian này sẽ có lãi.
Lợi nhuận đối với các mặt hàng Organic nhập khẩu, đơn cử như sữa mà Công ty CP Sữa Mỹ đang kinh doanh chỉ dao động từ 7% - 10%.
Hầu hết sản phẩm mà DN nhập khẩu và chỉ dùng trong việc kiểm tra hiệu ứng thị trường từ NTD cũng phải mất tối thiểu 150.000USD - 200.000USD một lô hàng (tương đương 3,3 - 4,4 tỷ đồng).
Đây được xem là khoản tiền DN phải chịu vì khi đưa hàng vào siêu thị hay cửa hàng tiện lợi, đại lý, DN đều phải cho gối đầu, trong khi nhập khẩu thì phải thanh toán đủ 100% cho nhà cung ứng ở Mỹ.
“Nhu cầu thực phẩm sạch là rất lớn, nhưng DN hay các nhà đầu tư (NĐT) muốn lấn sân ở lĩnh vực này, bắt buộc kinh doanh ít nhất từ bốn mặt hàng trở lên, đồng phải chấp nhận “chạy đường dài”, vì không thể có chuyện “ăn xổi ở thì” với việc kinh doanh thực phẩm Organic được”, ông Giang, khuyến cáo.
Là cổ đông của Công ty Liên doanh Orana Việt Nam, DN có thế mạnh và đang chiếm thị phần lớn trong phân khúc cung ứng trái cây được sử dụng cho một số loại sữa, nước giải khát, bánh, kem, nước trái cây thanh trùng tại Việt Nam và các nước trên thế giới, ông Nguyễn Hữu Chung, phân tích, việc tạo nên một sản phẩm Organic về mặt kỹ thuật là không khó, và càng dễ hơn khi Việt Nam là nước có thế mạnh về nông nghiệp và các loại trái cây nhiệt đới.
Song, vấn đề đáng nói là NĐT có chấp nhận được hay không. Bởi đối với một nông sản sạch về cơ bản được tạm hiểu là sản phẩm không có phân bón hoá học, không có thuốc trừ sâu nên năng suất thấp, giá bán vì thế sẽ bị đội lên cao.
“Không phải riêng thị trường Việt Nam mà tại Mỹ, quốc gia có thế mạnh về sản phẩm Organic, sản phẩm hữu cơ cũng có giá không hề rẻ”, ông Chung cho hay.
Do vậy, trước vấn đề làm sao để DN Việt Nam có thể cạnh tranh ở lĩnh vực này, chứ không hẳn chỉ trở thành nhà phân phối các mặt hàng Organic mà từ các loại gia vị như gừng, nghệ, cà ri đến lá nguyệt quế sấy khô, lá hương thảo sấy khô đều phải nhập khẩu, ông Chung cho rằng, để làm được điều này, Chính phủ phải đồng hành cùng DN, mà trước hết cả DN và Chính phủ phải làm cho NTD Việt Nam tin ở chất lượng hàng Việt, sau đó mới nói đến yếu tố “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.
“Việt Nam có thị trường, có lực lượng lao động đông, chi phí nhân công rẻ, có nền tảng về nông nghiệp, vậy tại sao lại không làm được thực phẩm Organic với giá tốt để cạnh tranh ngay tại sân nhà?”, ông Chung nói.

Thực trạng việc nhà bán lẻ kiêm vai trò nhà phân phối...

Cũng theo đại diện Satra, các sản phẩm này ngoài bán tại các siêu thị Satramart, cửa hàng tiện lợi Satrafoods còn được “chào hàng” tại những hệ thống siêu thị khác. Ngoài trái cây và thực phẩm, năm 2015, Satra đã đầu tư vào lĩnh vực phân phối xăng. Hiện tại Satra đã có 15 cửa hàng xăng dầu và 40 đại lý phân phối mặt hàng này tại TP.HCM. Năm 2015, sản lượng tiêu thụ vượt kế hoạch 30.000 tấn xăng dầu mà doanh nghiệp này đặt ra.
Mở rộng lĩnh vực phân phối
Lâu nay, khi nói đến những cái tên như Saigon Co.op, Big C, Satra..., người tiêu dùng nghĩ đến các siêu thị cung cấp thực phẩm tươi sống, chế biến, hóa mỹ phẩm, đồ gia dụng... Thế nhưng, ít ai ngờ những doanh nghiệp này cũng là những phân phối chuyên nghiệp và đang tiếp tục mở rộng lĩnh vực.
Ngay từ đầu năm 2016, Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra) đã cùng lúc nhập về Việt Nam nhiều loại trái cây và thực phẩm như lê Hàn Quốc, lê Hà Lan, cà phê Mỹ, trà sữa Mỹ... Trước đó, vào cuối năm 2015, Satra đã nhập bánh Grain cheese roll và mì ăn liền Samyang Hàn Quốc.
Ông Trần Văn Bắc, Phó tổng giám đốc Satra, cho biết: “Cuối năm 2015 Satra đã nhập về Việt Nam nhiều đợt hàng lê Hàn Quốc (mỗi đợt 10 tấn) và rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Để đa dạng chủng loại, mới đây, chúng tôi đã nhập thêm lê Hà Lan. Trong đợt thử nghiệm này, chúng tôi nhập 18 tấn để thăm dò thị trường. Nếu bán chạy, chúng tôi sẽ tăng số lượng trong thời gian tới”.
Cũng theo đại diện Satra, các sản phẩm này ngoài bán tại các siêu thị Satramart, cửa hàng tiện lợi Satrafoods còn được “chào hàng” tại những hệ thống siêu thị khác.
Ngoài trái cây và thực phẩm, năm 2015, Satra đã đầu tư vào lĩnh vực phân phối xăng. Hiện tại Satra đã có 15 cửa hàng xăng dầu và 40 đại lý phân phối mặt hàng này tại TP.HCM. Năm 2015, sản lượng tiêu thụ vượt kế hoạch 30.000 tấn xăng dầu mà doanh nghiệp này đặt ra.
Trước Satra, Công ty TNHH MTV Phân phối Saigon Co.op (SCD) làm nhà phân phối độc quyền các loại bút Paker & Watermen từ Tập đoàn Newell Rubbermaid (Mỹ). SCD còn là nhà phân phối Pantene, Head & Shoulders, Olay của Tập đoàn P&G (Mỹ), nhân sâm Jinghansam (Hàn Quốc), túi thời trang Looks của Tập đoàn Hotta (Nhật).
Chưa dừng lại ở đó, Công ty còn đẩy mạnh phân phối các sữa dinh dưỡng Complete, sữa Goldluck & Kidluck (Mỹ), dao cạo Razor (Mỹ), bánh Royal và Copenhagen của Tập đoàn Kelsen (Đan Mạch).
Không chỉ có Saigon Co.op và Satra mà cả Big C cũng là nhà phân phối lớn của thương hiệu Casino. Là công ty con của Tập đoàn Casino (Pháp), Big C đã nhập về các loại thịt nguội, pa tê... và hàng thời trang của tập đoàn này.
Tiếp tục khai phá
Trong lĩnh vực phân phối, việc tận dụng hệ thống chuỗi bán lẻ sẵn có là những lợi thế mà những nhà phân phối trên đang khai thác.
Hiện tại, Satra sở hữu Centre Mall Phạm Hùng diện tích gần 7.500m2, 2 siêu thị Satramart và chuỗi 80 cửa hàng Satrafoods tại TP.HCM. Theo đại diện Satra, trong năm nay sẽ nâng hệ thống cửa hàng Satrafoods lên con số 100. Satra cũng sẽ mở thêm 2 siêu thị Satramart tại TP.HCM.
Đây chính là cơ sở để Satra mở rộng mảng phân phối. Và cùng với việc đưa hàng vào hệ thống của mình, Satra sẽ đưa hàng vào các hệ thống bán lẻ khác.
Bởi theo kế hoạch, trong năm 2016, Satra sẽ đẩy mạnh việc phát triển hệ thống bán lẻ, trong đó sẽ phát triển mạnh mảng bán lẻ nội địa và cả xuất nhập khẩu. Hiện Satra đang tìm nhà phân phối ngoài hệ thống để quảng bá thương hiệu và phát triển mạng lưới phân phối những sản phẩm nhập khẩu chất lượng cao với giá cả cạnh tranh.
Trong khi đó, Saigon Co.op bên cạnh là thương hiệu bán lẻ hàng đầu Việt Nam còn phấn đấu trở thành nhà phân phối chuyên nghiệp, mà trong đó SCD là một thương hiệu được nhiều người biết đến. Mục tiêu này, theo chia sẻ của đại diện Saigon Co.op là “sẽ không quá xa”.
Lý do để Saigon Co.op tin vào điều này vì những sản phẩm mà SCD phân phối đều là những thương hiệu uy tín, được người tiêu dùng Việt Nam cũng như trên thế giới đánh giá cao. Chẳng hạn như bút Paker & Watermen hay các sản phẩm Pantene, Head& Shoulders, Olay đều của những tập đoàn lớn của Mỹ.
Hiện nay, bên cạnh các loại bút cao cấp Paker & Watermen, để đa dạng nguồn hàng và cũng là để phục vụ cho nhu cầu của khách hàng đặc biệt, SCD còn phân phối các sản phẩm dành cho phái mạnh như bóp da, dây lưng thương hiệu Paker & Watermen. Trong thời gian tới, SCD sẽ tiếp tục mở rộng danh mục sản phẩm phân phối tại Việt Nam.
Theo phân tích của một chuyên gia thị trường, với kinh nghiệm dạn dày trong lĩnh vực bán lẻ, các thương hiệu Saigon Co.op, Satra sẽ làm tốt vai trò của nhà phân phối. Vì chỉ cần đưa hàng vào hệ thống bán lẻ sẵn có, các doanh nghiệp này đã có lượng khách hàng đáng kể.
Bên cạnh đó, với lợi thế của nhà phân phối lớn, họ có thể đàm phán với đối tác để có giá hàng tốt. Chẳng hạn như với Saigon Co.op, đơn vị này hiện sở hữu 2 trung tâm thương mại Sen City, một đại siêu thị Co.opExtra, 80 siêu thị Co.opmart, gần 100 cửa hàng Co.op Food, hơn 200 cửa hàng Co.op.
Đó là chưa kể, Saigon Co.op còn đồng sở hữu thương hiệu trung tâm thương mại khá lớn với đối tác Singapore là SC VivoCity. Ngoài việc tận dụng kênh bán lẻ mạnh và sẵn có, SCD còn xây dựng mạng lưới phân phối riêng với những cửa hàng tại các trung tâm thương mại sang trọng khác. Cụ thể, với thương biệu bút Paker & Watermen, SCD có 12 cửa tại Parkson, Vincom, Unionsquare...

Cuộc đua 3F đầy gây cấn trong thị trường thức ăn chăn nuôi

Được biết, năm 2015, mảng kinh doanh đạm động vật đã góp phần làm tăng trưởng đột biến doanh thu thuần của Tập đoàn Masan với 14.054 tỷ đồng/30.628 tỷ đồng. Trong khi đó, cùng với Trung Quốc, Việt Nam vẫn là thị trường lớn, đầy tiềm năng của CP tại khu vực châu Á (đóng góp lớn thứ 3 vào doanh thu của Tập đoàn, sau Thái Lan, Trung Quốc).
Công suất và thị phần
Năm 2012, Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam (CP) chiếm 18,8% thị phần thức ăn chăn nuôi (TACN) trị giá 6 tỷ USD của Việt Nam, Proconco (liên doanh Việt - Pháp) 10,80% và Cagrill Việt Nam (Mỹ) 6,7%, lần lượt ở top đầu, trong khi đó, Greenfeed và Anco (liên doanh giữa Việt Nam và Malaysia) chỉ chiếm thị phần tương đối nhỏ với 4,4% và 2,2%.
Song, năm 2015, thị trường TACN chứng kiến nhiều biến động. Cụ thể, thông qua công ty thành viên là Masan Nutri-Science, Masan đã thâu tóm 52% cổ phần của Proconco và 70% cổ phần của Anco.
Đồng thời, cả Công ty CP Thủy sản Hùng Vương (HVG) và nhà sản xuất thép - Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát cũng “tấn công” vào thị trường TACN. Đến nay, trên cơ sở sản lượng mà các đơn vị công bố, ba vị trí dẫn đầu đang thuộc về CP (3,8 triệu tấn, 21% thị phần), Masan Nutri-Science (2,5 triệu tấn, 14% thị phần), Greenfeed và Hùng Vương đều nắm trong tay 8,3% thị phần (1,5 triệu tấn).
Tuy đã phân định ngôi thứ nhưng các doanh nghiệp tham gia thị trường TACN vẫn “kèn cựa” nhau từng tấn một, không ngừng toan tính để gia tăng sản lượng thông qua việc xây dựng nhà máy mới, hoặc tiến hành các thương vụ M&A.
Đại hội cổ đông thường niên năm 2016 của HVG (tổ chức vào tháng 1/2016) nhấn mạnh, năm nay, Công ty sẽ tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực TACN. Đây là nhân tố chính trong chuỗi quy trình khép kín của HVG và giúp giảm chi phí cho Công ty.
Trong năm 2015, HVG đã đầu tư 600 tỷ đồng vào công ty con là Công ty CP Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng (VTF) để xây dựng hai nhà máy thức ăn thủy sản (TATS) tại Đồng Tháp, nâng tổng công suất TATS của VTF lên 1,5 triệu tấn/năm.
Vào cuối năm 2016, công suất TATS của VTF sẽ đạt 2 triệu tấn/năm, đưa VTF trở thành công ty sản xuất TACN lớn thứ 2 của Việt Nam sau CP. Và dự kiến, năm 2017, tổng sản lượng TACN của VTF dự kiến đạt 2,5 triệu tấn, nhờ vào mảng thức ăn gia súc mới.
Masan cũng đặt nhiều kỳ vọng vào lĩnh vực TACN. Tháng 4/2015, trong thông cáo công bố thương vụ mua cổ phần của Proconco và Anco, ông Danny Le, Tổng giám đốc Masan Nutri-Science khẳng định mục tiêu đến năm 2020 sẽ đạt được 50% thị phần TACN tại Việt Nam.
Được biết, năm 2015, mảng kinh doanh đạm động vật đã góp phần làm tăng trưởng đột biến doanh thu thuần của Tập đoàn Masan với 14.054 tỷ đồng/30.628 tỷ đồng.
Trong khi đó, cùng với Trung Quốc, Việt Nam vẫn là thị trường lớn, đầy tiềm năng của CP tại khu vực châu Á (đóng góp lớn thứ 3 vào doanh thu của Tập đoàn, sau Thái Lan, Trung Quốc).
Khép kín quy trình, tạo thế chân vạc
Hiện cả nước có 239 nhà máy chế biến TACN, trong đó, tuy khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (gồm liên doanh và 100% vốn ngoại) chỉ có 59 nhà máy nhưng lại chiếm hơn 60% tổng sản lượng.
Song, nếu xét về sản xuất theo chuỗi giá trị của ngành chăn nuôi thì có lẽ hiện nay chỉ CP, Hùng Vương và sắp tới là Masan là đáp ứng được quy trình khép kín 3F.
Liên quan đến mô hình này, CP đã tạo được nền tảng khá vững chắc. Sau hơn 20 năm vào Việt Nam, CP đang sở hữu khối “tài sản đồ sộ” với một nhà máy sơ chế bắp làm nguyên liệu, 6 nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và 3 nhà máy sản xuất TATS, có tổng công suất 3,8 triệu tấn.
Cuối năm 2015, CP đã hợp tác với nông dân để phát triển hơn 3.000 gia trại cùng các nhà máy chế biến thực phẩm ở cả ba miền. Báo cáo kinh doanh tại Việt Nam của C.P Pokphand Co.,Ltd, (CPP) năm 2015 cho thấy, doanh thu của CP tại Việt Nam đạt 2,096 tỷ USD, tăng 1,1% so với 2014.
Trong đó, mảng TACN (Feed) đạt 832 triệu USD, giảm 4,1% so với năm trước, còn lĩnh vực nuôi trồng và thực phẩm (Farm và Food) đóng góp 1,265 tỷ USD, tăng 4,9% so với 2014. Đây là những con số mà không ít công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mơ ước khi kinh doanh ở Việt Nam.
Nhìn nhận tiềm năng của ngành, ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT Công ty Hùng Vương chia sẻ, chăn nuôi là phân khúc hấp dẫn nhất xét trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam nói chung, đó là lý do mà các doanh nghiệp FDI hiện diện đông đảo.
Ngay như CP, mỗi ngày, bình quân họ bán ra 150.000 con heo và dường như chi phối ngành thịt trị giá 18 tỷ USD của Việt Nam. Hiện, bên cạnh mảng thủy sản, Hùng Vương bước đầu đầu tư chăn nuôi heo. “Nhu cầu của thị trường đang vượt cung nên dư địa phát triển của ngành vẫn còn lớn”, ông Minh nói.
Về phía Hùng Vương, hai nông trại đầu tiên đặt tại An Giang và Bình Định với tổng đàn heo bố mẹ dự kiến ở mức 100.000 con vào năm 2018, cung ứng sản phẩm đi các tỉnh miền Trung và miền Nam. Còn riêng Masan, việc trở thành cổ đông chiến lược của Vissan là bước đi giúp họ hoàn thiện và tiến sâu hơn vào quy trình sản xuất khép kín 3F.

Cạnh tranh quyết liệt trong thị trường thực phẩm hữu cơ

Lý giải điều này, bà Tú Anh cho hay: “Việc chinh phục khách hàng lẫn nông dân đồng hành với DN trong hành trình sản xuất thực phẩm sạch đã rất khó, cạnh tranh đầu ra sản phẩm còn khó khăn hơn. Vì vậy, để có thể đi đường dài trên cuộc đua đem thực phẩm sạch đến tay người tiêu dùng, hiện nay chúng tôi một mặt phải mở rộng đầu tư sang ngành hàng khác, một mặt song hành làm thực phẩm sạch, chỉ có cách lấy ngắn nuôi dài mới có thể trường kỳ với đường đua đem thực phẩm sạch đến cho người tiêu dùng”.
Chấp nhận đường dài
Gần đây, giới doanh nghiệp (DN) Việt Nam lẫn các nhà đầu tư Việt kiều bắt đầu chủ động đầu tư sản xuất, chế biến nông sản theo tiêu chuẩn hữu cơ, nhằm tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm không chỉ ở thị trường trong nước.
Theo đó, với các loại rau, củ, quả tươi đơn thuần, các DN bắt đầu khai thác sâu từ khâu đầu đến khâu cuối, như thực phẩm sấy, đóng gói, nhưng đầu ra vẫn không tốt. Điều này có mâu thuẫn với rất nhiều mặt hàng Organic nhập khẩu đang được bày bán ở thị trường Việt Nam?
Theo đại diện Công ty TNHH Liên doanh Organik Đà Lạt, các loại thực phẩm Organic nhập khẩu đang được DN bày bán dù giá cao nhưng vẫn có lượng khách hàng nhất định. Cho thấy nhu cầu là có thực vì hàng nhập khẩu đã tạo được lòng tin ở người tiêu dùng. Và những DN Việt Nam chân chính, điều này lại càng là thử thách.
Phân tích vấn đề này, ông Nguyễn Hữu Chung, cổ đông của Orana Việt Nam, cho rằng, với cách “ăn xổi ở thì” của không ít DN Việt Nam trong lĩnh vực này vô tình làm tổn hại cả một ngành hàng đang được đánh giá là rất có tiềm năng.
Là DN hoạt động 5 năm trong lĩnh vực thực phẩm sạch tại TP.HCM, đã đưa ra thị trường các loại thanh long sấy xuất khẩu sang Mỹ, gạo sạch được khai thác từ vùng đất lúa - tôm, bà Lê Thị Tú Anh, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp Gap, cho rằng, đến thời điểm này, DN vẫn còn rất nhiều khó khăn.
Hai năm trước, khi chuẩn bị cho ra đời gạo hữu cơ, bà Tú Anh ấp ủ xây dựng hệ thống cửa hàng phân phối thực phẩm sạch, đầu tiên là ở TP.HCM. Nếu thành công sẽ nhân rộng mô hình ra các tỉnh, thành phố lớn. Song, chỉ sau hai năm, ước mơ ấy đã không còn.
Lý giải điều này, bà Tú Anh cho hay: “Việc chinh phục khách hàng lẫn nông dân đồng hành với DN trong hành trình sản xuất thực phẩm sạch đã rất khó, cạnh tranh đầu ra sản phẩm còn khó khăn hơn. Vì vậy, để có thể đi đường dài trên cuộc đua đem thực phẩm sạch đến tay người tiêu dùng, hiện nay chúng tôi một mặt phải mở rộng đầu tư sang ngành hàng khác, một mặt song hành làm thực phẩm sạch, chỉ có cách lấy ngắn nuôi dài mới có thể trường kỳ với đường đua đem thực phẩm sạch đến cho người tiêu dùng”.
Khó khăn của Công ty Nông nghiệp Gap đã phần nào cho thấy sự vất vả của DN Việt Nam trên con đường làm thực phẩm hữu cơ. Song nhìn lại thành quả sau 5 năm, rõ ràng Nông nghiệp Gap còn may mắn hơn nhiều DN khác, bởi thực tế có không ít NĐT “ngã ngựa” sau thời gian sản xuất, kinh doanh thực phẩm hữu cơ.
Đơn cử là trường hợp của một DN sản xuất nước mắm chay từ nấm. Hơn năm trước, DN này hồ hởi giới thiệu với báo giới nước mắm chay Organic, và cũng không giấu niềm vui khi cho biết đang đầu tư vùng trồng để khép kín và nội địa hoá vùng nguyên liệu thay vì phải nhập khẩu nấm từ nước ngoài. Song mới đây, DN này cho hay chương trình đã ngừng vì khó khăn đầu ra.
Nhiều DN sẵn sàng áp dụng dây chuyền sản xuất sạch, công nghệ chế biến hiện đại, nhưng nông sản sạch của Việt Nam không thể cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của một số nước, mặc dù được sản xuất hoàn toàn tự nhiên, đạt chất lượng hữu cơ 100%.
Nguyên nhân sâu xa vẫn được các DN nêu lên là giá hàng Việt vẫn cao hơn hoặc tương đương với hàng hữu cơ ngoại nhập nên rất khó để cạnh tranh.
Khi các “ông lớn” vào cuộc
Trước “sàn đấu” khá gay gắt của ngành hàng thực phẩm hữu cơ, việc các DN lớn trong ngành thực phẩm đẩy mạnh đầu tư đang rất được kỳ vọng.
Theo chia sẻ của ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty CP Vinamit, thị trường nhiều nước đang đón nhận nông sản sạch của Việt Nam. Với thế mạnh trong lĩnh vực trái cây sấy, ông Viên cho rằng, Vinamit có thể tạo giá trị gia tăng lên đến ít nhất 50% so với sản phẩm thường.
Nhìn thấy được tiềm năng này, Vinamit đã mạnh dạn đầu tư chế biến nông sản hữu cơ nhằm kỳ vọng tạo ra giá trị gia tăng vài chục cho đến 200%.
Trên thực tế, điều này đã được Vinamit chứng minh tại Thái Lan, cụ thể đối với trái cây sấy dẻo như quýt, khóm (dứa), đu đủ... đều có mức giá từ vài trăm ngàn đồng cho đến hơn một triệu đồng/kg.
Nếu như Vinamit tập trung đầu tư cho sản phẩm từ trái cây được trồng theo mô hình sạch, thì mới đây, ông Đỗ Ngọc Olivier Dũng, Chủ tịch HĐQT Công ty Đầu tư Dynasty, cũng tiết lộ, DN đang triển khai hệ thống nông nghiệp theo hình thức trồng trọt hữu cơ.
Cụ thể, ngoài việc hỗ trợ giống, kỹ thuật theo phương pháp hữu cơ cho nông dân, DN còn mua lại với giá tốt để họ yên tâm canh tác. Do đang ở giai đoạn đầu, nên Dynasty vẫn nhập khẩu thêm thực phẩm hữu cơ đóng gói từ một số nước để phân phối tại thị trường Việt Nam.
Theo ông Dũng, việc đầu tư vào nông sản sạch, hữu cơ, lợi nhuận đem lại không lớn, nhưng ông tin đây vẫn là lĩnh vực tiềm năng để kêu gọi nhiều NĐT cùng tham gia.

Doanh nghiệp nội ứng phó hàng Thái hiệu quả

Theo Thạch Bích, hiện nay kênh phân phối hiện đại chỉ chiếm 20% tổng sức mua của thị trường, vì vậy kênh phân phối truyền thống vẫn còn cơ hội cho DN trong nước, nhất là ngành nước giải khát, nước khoáng ít người tiêu dùng vào siêu thị mua số lượng lớn. Vì vậy, từ đầu năm 2016, Thạch Bích đã tập trung phát triển mạnh hệ thống phân phối tại khu vực miền Nam và các nước Lào, Campuchia. Hiện tại, Thạch Bích đã mở gấp đôi điểm bán bằng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ và chiết khấu cao cho đại lý.
Những năm gần đây, việc mua bán, sáp nhập (M&A) hệ thống bán lẻ đã diễn ra và kết thúc các thương vụ này là nhiều siêu thị bán lẻ của Việt Nam đã nằm trong tay của các tập đoàn Thái Lan.
Đơn cử như Berli Jucker Plc (BJC) đã mua 42 cửa hàng FamilyMart và đổi tên thành Bmart. Tập đoàn BJC đã hoàn tất việc mua lại chuỗi siêu thị Metro Cash & Carry Việt Nam và tuyên bố muốn mua lại Big C.
Trước đó, Central Group của tỷ phú Thái Lan Chirathivat cũng đã mua 49% cổ phần của Nguyễn Kim... Cùng với việc M&A, nhiều siêu thị Thái Lan đã phát triển mạnh như Index Living Mall, Robins...
Theo lý giải của ông Nguyễn Hữu Hoàng, Chủ tịch Công ty TNHH Trung Huy chuyên phân phối hàng gia dụng Thái Lan: “Việc các DN Thái Lan thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực bán lẻ là do thị trường bán lẻ Việt Nam rất nhiều tiềm năng, sức mua lớn. Thái Lan lại gần Việt Nam và người Thái có tập quán tiêu dùng, khẩu vị, thẩm mỹ giống người Việt. Bên cạnh đó, hàng Thái Lan lại có ưu điểm là giá hợp lý, chất lượng bảo đảm, mẫu mã đa dạng nên được người tiêu dùng Việt Nam đón nhận. Nhiều DN Thái Lan còn được chính phủ của họ hỗ trợ vay vốn sản xuất, kinh doanh với lãi suất 1%, thậm chí 0%, trong khi đó, DN Việt Nam phải chịu lãi vay 6 - 7% nên rất khó cạnh tranh”.
Những mặt hàng Việt Nam phải cạnh tranh nhiều nhất với hàng Thái là nhựa gia dụng, thực phẩm, ngành hàng tiêu dùng nhanh, vật liệu xây dựng.
Ông Hồ Đức Lam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nhựa Rạng Đông, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho biết: “Trong ba năm trở lại đây, ngành nhựa tăng trưởng 15 - 17%/năm.
Mức tiêu thụ nhựa bình quân ở Việt Nam là 41kg/người/năm, trong khi mức trung bình thế giới là 47kg/người/năm, các nước châu Âu và Mỹ lên đến trên 100kg, đó là lý do nhà đầu tư Thái đang đầu tư nhiều vào Việt Nam, trong đó tập trung nhiều vào ngành nhựa”.
Để hỗ trợ DN nâng cao sức cạnh tranh, Hội Cao su - Nhựa TP.HCM đã đề xuất quy hoạch khu tập trung cho DN nhựa, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi nhằm tiết giảm chi phí và kiến nghị Nhà nước có chính sách cho DN nợ thuế được trả chậm và không phạt nợ quá hạn để giảm áp lực tài chính, dồn lực cạnh tranh.
Trước sức ép tồn tại, nhiều DN Việt Nam đã đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ. Đơn cử mới đây, Nhựa Rạng Đông đã ký kết hợp tác thương mại toàn diện với Công ty Sojitz Pla - net (thuộc Tập đoàn Sojitz - Nhật Bản) để Sojitz Pla - net tư vấn và chuyển giao các giải pháp về công nghệ, hệ thống quản lý và phát triển sản phẩm mới theo tiêu chuẩn Nhật Bản.
Rạng Đông cũng mở rộng phân phối sản phẩm chủ lực như bao bì phức hợp, giả da, màng nhựa PE/EVA, nguyên phụ liệu vào các tập đoàn, DN Nhật Bản tại Việt Nam và trên thế giới.
Theo đại diện Nhà máy Nước khoáng Thạch Bích, trước đây, Thạch Bích chỉ chú trọng thị trường miền Trung và miền Bắc, nhưng gần đây, trước sự gia tăng nhiều thương hiệu nước giải khát của Thái Lan nên đã mở rộng hệ thống phân phối.
Theo Thạch Bích, hiện nay kênh phân phối hiện đại chỉ chiếm 20% tổng sức mua của thị trường, vì vậy kênh phân phối truyền thống vẫn còn cơ hội cho DN trong nước, nhất là ngành nước giải khát, nước khoáng ít người tiêu dùng vào siêu thị mua số lượng lớn.
Vì vậy, từ đầu năm 2016, Thạch Bích đã tập trung phát triển mạnh hệ thống phân phối tại khu vực miền Nam và các nước Lào, Campuchia. Hiện tại, Thạch Bích đã mở gấp đôi điểm bán bằng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ và chiết khấu cao cho đại lý.
Dự báo sữa đậu nành cũng sẽ cạnh tranh khốc liệt, không chỉ trong nước mà cả với sản phẩm của Thái Lan, mới đây Công ty Vinasoy đã đầu tư 900 tỷ đồng xây dựng thêm một nhà máy ở Bình Dương. Ước tính nhà máy này sẽ cung cấp thêm cho thị trường 90 triệu lít/năm, nâng tổng công suất của Vinasoy lên 390 triệu lít/năm.
Ông Nguyễn Công Tụ, Giám đốc Công ty Vinasoy cho biết: “Việc đầu tư nhà máy tại Bình Dương nhằm mở rộng kênh phân phối. Nhà máy này không chỉ đưa sản phẩm đến người tiêu dùng miền Nam một cách nhanh chóng mà giá thành cũng cạnh tranh hơn do giảm được chi phí vận chuyển. Khi giai đoạn 2 hoàn tất, nhà máy sẽ đạt công suất 180 triệu lít/năm. Đây cũng là lợi thế cạnh tranh của Vinasoy với các đối thủ”.
Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Vinamit cũng cho biết: “Với sự xuất hiện của nhiều nhà bán lẻ Thái Lan, chắc chắn là hàng Thái sẽ hiện diện ngày càng nhiều ở thị trường Việt Nam. Đây sẽ là những đối thủ nặng ký của các DN trong nước. Vì thế buộc Vinamit phải đổi mới, sáng tạo để tạo ra sản phẩm khác biệt. Cụ thể, ngoài việc đầu tư cải tổ bộ máy, công nghệ, ra mắt nhiều sản phẩm mới, Vinamit còn đầu tư vào sản phẩm Organic bởi đây là xu hướng mà DN muốn cạnh tranh với đối thủ trên bình diện quốc tế không thể đứng ngoài “cuộc chơi”. Và chúng tôi đã chuẩn bị cho thị trường này từ ba năm nay với một trang trại 200 hécta trái cây hữu cơ, chủ lực là mít, xoài và sầu riêng tại Phú Giáo, Bình Dương. Đây cũng sẽ là tiền đề để Vinamit mở rộng tiếp 2.000 hécta tại Dăk Lăk”.
Cũng theo ông Viên, các DN Việt Nam vẫn có lợi thế sân nhà nếu nhanh chóng đổi mới và biết tìm thế mạnh riêng. Đơn cử, các DN kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nếu đi theo hướng nông nghiệp hữu cơ sẽ thuận lợi, dễ dàng và nhanh hơn so với chuyển hướng vào đại nông nghiệp, đồng thời các sản phẩm làm ra sẽ có giá trị canh tranh hơn.  

Thương hiệu cũ tìm công nghệ mới đối với tơ lụa nước ta

Đối với thế giới, thị phần đó rất nhỏ, nhưng với từng nhà sản xuất tại Việt Nam và các nước châu Á, đó là triển vọng lớn, một phân khúc cao cấp thể hiện sự tự hào của người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Thành công của những doanh nghiệp về tơ lụa ở các nước châu Á là do họ cố gắng nuôi dưỡng, giữ gìn thương hiệu truyền thống nhưng luôn áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Và chị hiểu rằng, con đường ngắn nhất để tìm kiếm mặt hàng chủ lực cũng như thương hiệu là dựa vào cái tên truyền thống "Đũi Thái Bình". Chính tại nơi rất xa quê nhà, một lần nữa chị thấy được giá trị của lụa truyền thống có địa vị ra sao trong đời sống hiện đại, không quá ảo tưởng về giá trị cũ có thể hiện diện trên thương trường, nhưng chắc chắn nó là nền tảng để đưa công nghệ hiện đại, đưa kỹ thuật mới vào cái cũ theo thị hiếu khách hàng.
Với những mặt hàng khá phong phú, tuy giá thành cao, nhưng đũi Thái Bình đã thu hút sự chú ý của nhiều người, từ những nhà cung cấp tơ và nguyên liệu khác đến những nhà thiết kế đều đặt vấn đề trao đổi, mua bán mặt hàng này. Và chị đã nghĩ đến một cơ hội lớn đẩy mạnh thương hiệu mặt hàng đũi từ Thái Bình.
Triển lãm Tơ lụa Việt Nam - châu Á tuần qua tại thành phố Hội An cho thấy lụa Việt đang có nhiều triển vọng. Theo ông Dilip Barooah - Chủ tịch Hiệp hội Tơ lụa châu Á, sản lượng tơ lụa chiếm 0,5% thị phần thương mại thời trang thế giới trên tổng qui mô thị trường 1,15 nghìn tỷ USD.
Đối với thế giới, thị phần đó rất nhỏ, nhưng với từng nhà sản xuất tại Việt Nam và các nước châu Á, đó là triển vọng lớn, một phân khúc cao cấp thể hiện sự tự hào của người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Thành công của những doanh nghiệp về tơ lụa ở các nước châu Á là do họ cố gắng nuôi dưỡng, giữ gìn thương hiệu truyền thống nhưng luôn áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Nhìn từ Bảo Lộc (Lâm Đồng) để thấy, dù là vùng đang sản xuất tơ lụa theo kỹ thuật hiện đại nhất Việt Nam hiện nay nhưng cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề.
Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, đại diện Vietsilk Textile tại huyện Bảo Lộc, mỗi năm Công ty cho ra thị trường 60 tấn lụa mộc, chủ yếu xuất sang Nhật Bản, nhưng chất lượng tơ không đạt tiêu chuẩn quốc tế do nuôi giống tằm thương phẩm đã thoái hóa.
Sự lúng túng của Bảo Lộc ở chỗ không kết nối được với những viện nghiên cứu nông nghiệp để đặt hàng giống tằm chất lượng cao. Chính tại triển lãm này, ông Nguyễn Tiến Dũng chính thức đề nghị với các nhà sản xuất tơ tằm Nhật Bản giúp Bảo Lộc cải tiến chất lượng giống tằm, tặng cho Bảo Lộc những giống tằm chất lượng cao.
Qua đó cho thấy, người làm lụa Việt không nên ảo tưởng về danh tiếng truyền thống mà cần có sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế.
Bà Ohara Natsuko - Phó hiệu trưởng Trường Đại học nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản đã giới thiệu công trình nghiên cứu phối hợp giữa các đại học Việt Nam và Nhật Bản, cho biết, kỹ thuật thủ công dệt nhuộm tự nhiên của nghệ nhân ở Hà Đông và Tân Châu (An Giang) rất tuyệt vời, nhưng đang dần mai một, mặc dù xu hướng của thế giới đang hướng về sử dụng nguyên liệu thiên nhiên.
Sự mai một đó là do ngành sản xuất lụa tại Việt Nam manh mún, co cụm trong từng đơn vị, thiếu kết nối của một hiệp hội, hoặc với các viện nghiên cứu, với thị trường nước ngoài.
Cuộc hội ngộ tơ lụa tại Hội An có thể gióng lên tiếng chuông báo động: Lụa Việt nam đang thua các nước láng giềng. Ví dụ lụa Campuchia, cũng xuất phát điểm là lụa truyền thống, đã chọn hướng vào phân khúc cao cấp nhất của thị trường châu Âu, có mặt trong những bộ sưu tập thời trang của các nhà thiết kế Italia và Pháp.
Lụa Thái Lan với hai thương hiệu Spun Silk World và Jim Thomson đã lan tỏa danh tiếng khắp thế giới với chất lượng cao bao hàm các yếu tố mẫu mã, công nghệ sạch với môi trường, sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng và sử dụng người địa phương trong sản xuất.
Một cuộc hội ngộ đã đặt ra nhiều câu hỏi khó cho nhà sản xuất lụa Việt. Tuy nhiên đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp trẻ từ làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội),Thái Bình, Bảo Lộc (Lâm Đồng) tìm đường xuất khẩu ra nước ngoài...

Cùng nhau tìm hiểu về ngành công nghiệp chế biến cao su: Cơ hội từ "ngách"

Thậm chí, theo chia sẻ của đại diện Công ty Showa Holdings, nhiều sản phẩm cao su từ Trung Quốc đã lấn sang thị trường Nhật Bản và kết quả là một số sản phẩm của DN Nhật phải dừng sản xuất do khó cạnh tranh về giá thành. Hiện, dư địa thị trường để các nhà sản xuất sản phẩm từ cao su của Việt Nam còn khá lớn, nhưng những hạn chế về nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật khiến DN khó mở rộng kinh doanh và tham gia vào những lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao.
Cũng như gạo và cà phê, cao su được xác định là một trong 10 ngành hàng chiến lược của Việt Nam. Xuất khẩu (XK) cao su thiên nhiên của Việt Nam hiện nằm trong nhóm 5 quốc gia đứng đầu trên thế giới (theowww.worldstopexports.com).
Dẫn chứng của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam cho thấy, năm 2014, cao su Việt Nam đã xuất sang 86 nước với hơn 1 triệu tấn, chiếm 11,2% thị phần thế giới, đạt kim ngạch 1,78 tỷ USD. Tuy nhiên, việc XK cao su trong khoảng ba năm trở lại đây không mấy khả quan do giá liên tục suy giảm, như năm 2015, giá trị XK giảm 10% so với 2014.
Giá cao su nguyên liệu giảm là nỗi lo của nhà nông, các doanh nghiệp (DN) chuyên trồng cao su và đơn vị XK, nhưng với ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ cao su lại là cơ hội để tăng doanh thu, lợi nhuận do giá nguyên liệu đầu vào giảm.
Hơn nữa, với nền kinh tế ngày càng hội nhập, các nhà sản xuất sản phẩm từ cao su cũng đang đứng trước nhiều cơ hội hợp tác mới. Tuy nhiên, để tận dụng được các cơ hội này, DN phải đầu tư dài hạn.
Tại một hội nghị quốc tế về ngành cao su gần đây, phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, để ngành cao su phát triển bền vững, thời gian tới cần tái cơ cấu theo hướng giảm XK nguyên liệu thô và tăng XK sản phẩm từ cao su.
Bởi, thực tế cho thấy, năm 2014, trên 85% sản lượng cao su nguyên liệu XK chỉ đạt gần 1,8 tỷ USD, trong khi 15% sản lượng cao su nguyên liệu được chế biến ra thành phẩm lại có giá trị XK hơn 1,5 tỷ USD, theo đó, giá trị XK tăng trên 33% mỗi năm trong giai đoạn từ 2010 - 2014.
Ngay như quốc gia có sản lượng và XK cao su lớn nhất thế giới là Thái Lan (năm 2015, cao su là một trong 10 ngành đóng góp đáng kể vào tổng giá trị kim ngạch XK của Thái), XK các sản phẩm từ cao su là một phần quan trọng trong cơ cấu chung của ngành. Cách đây hơn chục năm, trong tổng kim ngạch XK hơn 4,6 tỷ USD của Thái Lan thì các sản phẩm từ cao su chiếm hơn 1,95 tỷ USD.
Giá trị của các sản phẩm từ cao su mang lại không nhỏ nhưng các nhà sản xuất Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết ưu thế về vùng nguyên liệu như Thái Lan.
Hay như trường hợp của Trung Quốc, dù không thuộc top 15 quốc gia có giá trị XK cao su nguyên liệu lớn nhất thế giới nhưng lại đứng đầu về sản xuất các sản phẩm từ cao su và thứ hai thế giới trong sản xuất săm lốp xe (Trung Quốc là thị trường nhập khẩu cao su nguyên liệu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 48% sản lượng XK).
Thậm chí, theo chia sẻ của đại diện Công ty Showa Holdings, nhiều sản phẩm cao su từ Trung Quốc đã lấn sang thị trường Nhật Bản và kết quả là một số sản phẩm của DN Nhật phải dừng sản xuất do khó cạnh tranh về giá thành.
Hiện, dư địa thị trường để các nhà sản xuất sản phẩm từ cao su của Việt Nam còn khá lớn, nhưng những hạn chế về nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật khiến DN khó mở rộng kinh doanh và tham gia vào những lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao.
Theo báo cáo phân tích của Công ty Chứng khoán MBS, cả nước chỉ có ba DN quy mô lớn sản xuất các sản phẩm từ cao su, đó là Công ty CP Công nghiệp Cao su Miền Nam (Casumina, HOSE: CSM), Công ty CP Cao su Sao Vàng (HOSE: SRC) và Công ty CP Cao su Đà Nẵng (HOSE: DRC).
Song, sản phẩm chủ lực của cả ba DN này phần lớn là săm lốp xe, trong khi sản phẩm của các công ty Trung Quốc lại "đánh mạnh" vào nhiều ngành nghề, bên cạnh nhu cầu của ngành công nghiệp ô tô, họ nhắm đến ngành xây dựng, y tế, da giày, may mặc.
Với mục tiêu khai thác tiềm năng thị trường Việt Nam khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành (cuối năm 2015), cũng như các hiệp định kinh tế quốc tế (mà Việt Nam là thành viên) và nhu cầu khá lớn từ thị trường nội địa, tháng 2/2016, Tập đoàn Showa Holdings (một trong 4 DN lớn nhất ở Nhật Bản về mảng thi công bọc cao su và nắm hơn 55% thị phần bóng soft tennis ở Nhật) đã tổ chức hội thảo kêu gọi đầu tư tại TP.HCM. Thông qua đó, Showa Holdings muốn tìm đối tác Việt Nam gia công, sản xuất một số sản phẩm cao su cho công ty mẹ ở Nhật để XK.
Ông Tatsuya Konoshita - Giám đốc Điều hành Tập đoàn Showa Holdings cho biết, trước mắt, DN sẽ phát triển mảng thi công bọc cao su tại Việt Nam, bởi mảng này không thể thiếu trong ngành công nghiệp hóa chất (phân bón), thực phẩm, điện, nhà máy đường.
Chẳng hạn, với Việt Nam, hiện có khoảng 40 nhà máy đường (đứng thứ 21 thế giới về sản lượng) cùng hàng loạt nhà máy bột ngọt, nhà máy hóa chất, nhưng ngành công nghiệp bọc cao su lại chưa phát triển, những công trình lớn đều phải thuê đối tác gia công từ Malaysia.
Hiện tại, Showa Holdings đang tìm kiếm đối tác ở Việt Nam để hợp tác, chuyển giao công nghệ nhằm thực hiện những công trình lớn về bọc cao su do Tập đoàn đảm trách tại đây.
"Giá nhân công ở Việt Nam đang khá cạnh tranh, các khoản thuế suất đang được cắt giảm, trao đổi thương mại trở nên dễ dàng hơn nên chúng tôi mong muốn tìm thêm đối tác sản xuất các sản phẩm từ cao su hiện có của Công ty và phát triển một số sản phẩm mới (dùng trong y tế), sau đó xuất ngược về Nhật, vì một số sản phẩm của Trung Quốc đang dần mất lợi thế về giá cả do chi phí đầu vào, đặc biệt là nhân công đã tăng đáng kể”, ông Tatsuya Konoshita cho biết.
Đây được xem là cơ hội cho các nhà sản xuất sản phẩm từ cao su của Việt Nam tiếp cận công nghệ mới và tăng doanh thu, trước hết là từ các hợp đồng gia công.
Phía Showa Holdings cũng chia sẻ, DN đang tìm kiếm nhà cung cấp ru lô cao su (sử dụng cho nhiều ngành như in offset, ngành dệt may, giấy và cán tole). Showa Holdings từng nằm trong top 3 về ru lô cao su ở Nhật nhưng vài năm trở lại đây đã ngưng sản xuất. Hiện tại, thị trường Nhật chỉ còn duy nhất một công ty cung cấp sản phẩm này, trong khi cầu đang có chiều hướng tăng.
Showa Holdings sẽ kinh doanh lại mảng này thông qua một nhà cung ứng sản phẩm bên ngoài Nhật Bản, nếu mọi việc thuận lợi, họ và đối tác sẽ cùng thực hiện hợp đồng 10 triệu USD trong vòng hai năm tới.
Theo ông Lê Văn Chương - Giám đốc Công ty TNHH Cao su Kỹ thuật A.67, dù có hơn 30 năm trong ngành nhưng sản phẩm của Công ty (ru lô cao su) chủ yếu tiêu thụ nội địa, kết quả kinh doanh khá ổn định và có thể cạnh tranh được với hàng Thái nhưng nếu để cạnh tranh với các thương hiệu Nhật thì không dễ. Do đó, ông Chương cũng muốn hợp tác với các DN lớn ở nước ngoài để cải tiến công nghệ và tiêu chuẩn sản phẩm.
Trong khi đó, đại diện Công ty Cao su - Nhựa Vạn Phát (xưởng sản xuất ở Long An) cho biết, đầu năm 2016, một đối tác lớn đã yêu cầu làm sản phẩm mới là băng chuyền khổ rộng (vốn mua từ Nhật Bản nhưng nay lại muốn mua từ Việt Nam), nhưng công nghệ và dây chuyền sản xuất của Vạn Phát chưa đáp ứng được nên muốn tìm đối tác lớn, sở hữu công nghệ hiện đại cùng chia sẻ lợi ích này.
Đánh giá về lĩnh vực công nghiệp chế biến các sản phẩm từ cao su, ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP.HCM cho rằng, đến nay, số DN lớn trong nước không nhiều, chủ yếu sản xuất săm lốp, còn sản xuất cao su kỹ thuật thì đa phần là DN nhỏ và vừa.
Điểm chung của các nhà sản xuất trong nước là khâu kỹ thuật còn hạn chế nên không dễ chen chân vào phân khúc cao cấp. Do đó, việc làm nhà cung ứng cho DN ngoại có quy mô lớn là cách học hỏi nhanh nhất để nhà sản xuất trong nước tạo nền tảng vững chắc và tăng dần nguồn thu.

Dễ làm, khó bán đối với xà bông thiên nhiên

Trong khi đó, tại Việt Nam các thương hiệu như Myin (Công ty TNHH Thực Mỹ phẩm Myina), CocoCherry (Công ty TNHH Dược Mỹ phẩm CocoCherry Việt Nam), Cocosavon (Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại và Dịch vụ Cô Ba)... được làm từ cám gạo, cà phê, đậu xanh, gấc, khổ qua, dừa... có mức giá dao động từ 30.000 - 300.000đ/sản phẩm (100gr) đã làm dấy lên nghi vấn về chất lượng của XBTN Việt Nam.
Nhiều tiềm năng
Chia sẻ từ giới chuyên gia trong lĩnh vực mỹ phẩm, XBTN không phải là sản phẩm mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam. Bởi từ những năm 1930 - 1940, thương hiệu xà bông "Cô Ba" do ông Trương Văn Bền, một Hoa kiều sáng lập và phát triển (nay là Công ty CP Sản xuất - Thương mại Phương Đông) đã từng thống lĩnh thị trường, đánh bật nhiều loại xà bông nhập khẩu vào Việt Nam.
Cách đây năm bảy năm, vài DN trong lĩnh vực hóa mỹ phẩm cũng đã đưa ra thị trường XBTN, trong đó có thương hiệu Thorakao của Công ty TNHH Sản xuất Mỹ phẩm Lan Hảo.
Mặc dù thời điểm đó, sản phẩm mang thương hiệu Thorakao có thành phần nghệ, hoa hồi đã được xuất khẩu sang Trung Đông, Úc, Đài Loan... nhưng tại thị trường nội địa mặt hàng này vẫn không được người tiêu dùng đón nhận tích cực.
Nguyên nhân của vấn đề từng được đại diện phía Lan Hảo giải thích, người nước ngoài rất thích XBTN của Việt Nam, vì nghệ có công dụng làm mịn, trắng sáng da..., nhưng ở thị trường trong nước khách hàng không mua vì cho rằng giá cao, dù thời điểm đó xà bông Thorakao được bán khoảng 10.000đ/sản phẩm.
Năm 2015, tại gameshow "Sống xanh - Ai là chuyên gia?" về chủ đề môi trường do VTV2 thực hiện nhằm ghi nhận và tôn vinh những ý tưởng kinh doanh có đóng góp thiết thực cho môi trường, đã có một dự án về XBTN vượt qua rất nhiều DN khác và được ghi nhận là sản phẩm có tiềm năng phát triển.
Trong vai trò ban giám khảo, PGS-TS. Nguyễn Thế Chinh - Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, đã đánh giá đây là XBTN "made in Vietnam" rất thân thiện với môi trường, có giá hợp lý, có khả năng cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.
Theo đó, ông Chinh kỳ vọng, sản phẩm sẽ tạo được dấu ấn trong thời gian tới. Song, trước thực trạng vàng thau lẫn lộn về chất lượng sản phẩm, DN ấy liệu có đủ lực để trở lại thị trường và cạnh tranh ở phân khúc này?
Đua chất lượng
Chỉ cần "click" chuột vào công cụ tìm kiếm trên google, hay vào các trung tâm thương mại, thậm chí các chợ, người tiêu dùng sẽ dễ dàng mua được XBTN. Song điều đáng nói là giá bán mặt hàng này đang có sự chênh lệch lớn, từ vài chục nghìn đến vài trăm nghìn đồng/sản phẩm.
Cụ thể, đối với mặt hàng nhập khẩu như XBTN do Công ty Lohas Happy (Hàn Quốc) sản xuất, Công ty TNHH Khỏe Đẹp (ATZ) nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam có giá từ 450.000 - 680.000đ/sản phẩm. Các loại xà bông nhập khẩu từ Thái Lan có giá mềm hơn, từ 50.000 - 150.000đ/sản phẩm.
Trong khi đó, tại Việt Nam các thương hiệu như Myin (Công ty TNHH Thực Mỹ phẩm Myina), CocoCherry (Công ty TNHH Dược Mỹ phẩm CocoCherry Việt Nam), Cocosavon (Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại và Dịch vụ Cô Ba)... được làm từ cám gạo, cà phê, đậu xanh, gấc, khổ qua, dừa... có mức giá dao động từ 30.000 - 300.000đ/sản phẩm (100gr) đã làm dấy lên nghi vấn về chất lượng của XBTN Việt Nam.
Chia sẻ về giá bán XBTN, bà Nguyễn Trần Thu Trà, đại diện CocoCherry (đơn vị đang cung cấp cho thị trường hơn 20 loại XBTN dùng rửa mặt và tắm cho cả nam, nữ, an toàn da em bé và bà bầu) cho hay, trong giá một bánh XBTN, nguyên liệu chiếm 75%, phần còn lại là công thợ (tay nghề) để tạo được hoa văn độc đáo.
"Xà bông handmade hiện nay không khó làm, nhưng làm thế nào để thân thiện với môi trường và thiên nhiên mới là chuyện đáng bàn. Do vậy, mới có nhiều mức giá”, bà Trà nói.
Đại diện CocoCherry còn cho hay, chỉ cần phôi xà bông, hương liệu và màu trộn lại là đã có một loại xà bông "handmade". Phôi xà bông được phân ra hai loại: hàng nhập khẩu từ Mỹ giá rất đắt, hàng mua từ Trung Quốc vô cùng rẻ. XBTN gồm các thành phần chính như dầu nền (các loại tinh dầu), nước, phụ gia từ thiên nhiên (dầu gấc, tinh bột nghệ, yến mạch...) và xút giúp XBTN có thể bảo quản được từ 1 - 2 năm.
Điều này cho thấy, nguyên liệu ảnh hưởng rất lớn đến giá thành. Giá một sản phẩm XBTN đắt hay rẻ là phụ thuộc vào thành phần tinh dầu nhiều hay ít. Có những sản phẩm cần tới hàng chục loại tinh dầu để phối trộn thì giá bán sẽ không thể có mức vài chục nghìn đồng, bà Trà cho biết.
Theo một chuyên gia trong ngành mỹ phẩm, hiện nay, do nhiều người tiêu dùng vẫn chưa quen sử dụng XBTN nên vẫn còn nghi ngại về chất lượng. Song cũng phải thừa nhận, độ "nóng" của sản phẩm là có thật, vì ở các nước trên thế giới, đã có rất nhiều DN thành công trong lĩnh vực này với doanh thu hàng tỷ USD từ việc khai thác các sản phẩm từ thiên nhiên.
Do vậy, để chạy đường dài, DN Việt Nam cần phải chinh phục khách hàng từ khâu chất lượng sản phẩm, tránh chạy đua về giá, vì điều này rất dễ bị "ngã ngựa" khi so kè cùng hàng ngoại.